Một phiếu ghi “sửa lại cho đẹp” chưa cho người nhận biết cần sửa chiếc nào và nhìn vào đâu để kiểm kết quả. Với hàng gia công, hãy nối từng vấn đề với mã theo dõi, vị trí và căn cứ đã thống nhất. Phiếu rõ giúp hai bên trao đổi đúng phần việc, thay vì sửa theo cách hiểu riêng rồi lại hỏi từ đầu.
Mỗi vấn đề cần tìm lại được trên đúng chiếc hàng
Nếu lô có nhiều mã hoặc cỡ, ghi mã mẫu và phiên bản trước. Với phần cần xử lý, dùng mã theo dõi của chiếc hoặc nhóm đã nhận diện; giữ mã ấy trên túi, khay hoặc thẻ đi kèm theo cách hai bên thống nhất. Không viết hay gắn vật có thể làm hỏng sản phẩm chỉ để đánh dấu.
Ảnh tổng thể giúp nhận đúng mẫu; ảnh gần chỉ ra vị trí. Mô tả “đường ráp phía sau đầu, nhìn từ lưng” rõ hơn “bên trái bị hở”, bởi hai người có thể đang nhìn từ hai hướng. Khi cần dùng trái/phải, nêu theo hướng nhìn nào. Ảnh nên cho thấy mốc để tìm vị trí, không chỉ một mảng vải phóng quá gần.

Ảnh minh họa cách chỉ vị trí đường may; tiêu chí sửa phải theo mẫu và yêu cầu của đơn thực tế.
Viết phần cần sửa và căn cứ kiểm thành hai ô riêng
Ghi hiện tượng đã quan sát trước, rồi ghi phần việc đề nghị. Ví dụ “đường ráp sau đầu có đoạn hở” là hiện tượng; “hoàn thiện đoạn ráp theo mẫu đã xác nhận” là yêu cầu đang chờ bên nhận đồng ý. Không tự ghi nguyên nhân hoặc trách nhiệm nếu mới có ảnh hiện tượng.
- Mã chiếc/nhóm, mã mẫu và cỡ; mã vấn đề trong lần kiểm này.
- Vị trí, hiện tượng, ảnh gốc và thời điểm ghi nhận.
- Mẫu hoặc yêu cầu đã chốt dùng để đối chiếu; điểm nào còn chưa rõ.
- Phần việc đề nghị, phần đã được người có quyền chấp nhận cho sửa và người thực hiện.
- Kết quả tự kiểm sau sửa; kết quả người có trách nhiệm kiểm lại, ngày và căn cứ thực tế.
Tiêu chí phải đủ để hai bên hiểu cùng kết quả: vị trí, dáng hoặc cách hoàn thiện theo mẫu nào. Không tự thêm khoảng sai số, phép thử hoặc yêu cầu kỹ thuật chỉ để phiếu có vẻ đầy đủ. Nếu căn cứ cũ chưa mô tả được điểm đó, cần thống nhất lại trước khi coi là điều kiện nghiệm thu.
Ví dụ: một chiếc có hai lỗi nhưng mới sửa xong một lỗi
Tình huống giả định: chiếc G03 có vấn đề L1 ở đường ráp sau đầu và L2 ở vị trí nơ. Phiếu ghi hai dòng cùng G03, mỗi dòng có ảnh và căn cứ riêng. Hai dòng là hai vấn đề cần theo dõi, không phải hai chiếc hàng.
Sau lần xử lý đầu, người kiểm xác nhận L1 đạt theo căn cứ đã chốt, còn L2 chưa đạt. G03 vẫn chờ phần nơ, không được chuyển cả chiếc sang trạng thái hoàn tất chỉ vì có một dòng đã đạt. Khi L2 được sửa tiếp, ghi lần kiểm tiếp theo tại chính dòng ấy; giữ kết quả lần trước để biết đã thay gì.

Mô tả vị trí nơ bằng căn cứ của đúng mẫu; hai gấu trong hình không phải hàng đã kiểm hoặc nghiệm thu.
Nếu lần kiểm sau phát hiện thêm vết bẩn ở một vị trí khác, mở ghi nhận mới gắn G03 và thời điểm phát hiện. Không sửa nội dung ảnh gốc của L2 để làm như vết bẩn đã được giao từ đầu. Ngược lại, lỗi đường ráp cũ tái xuất hiện cần nối lại L1 để hai bên biết đó là vấn đề cũ chưa ổn định, không chỉ tạo một tên lỗi mới.
Đóng phiếu bằng kết quả kiểm, không bằng câu đã gửi lại hàng
Giữ ảnh trước và sau ở cùng góc khi phù hợp, kèm ngày và người xác nhận thực. “Đã sửa”, “đã giao trả” và “đã được chấp nhận” là ba sự việc khác nhau. Phiếu có thể ghi phần đã đạt và phần còn chờ; không điền tên người kiểm hoặc ngày chấp nhận thay cho họ.
Khi trao đổi kiểm tra và bàn giao công đoạn gia công với Gia Công Thú Bông, gửi ảnh, mã và căn cứ của từng vấn đề. Mẫu thông tin trên giúp chuẩn bị yêu cầu, không phải quy trình nội bộ hay cam kết sửa miễn phí của doanh nghiệp. Lịch, vật tư và cách xử lý được thống nhất theo tình trạng hàng thực.

