Căn cứ kiểm tra phải được chốt trước
Mẫu duyệt, thông số, công đoạn và tiêu chí đầu ra là cơ sở kiểm tra. Hai bên thống nhất kiểm toàn bộ hay lấy mẫu, cách ghi sai lệch và người xác nhận. Những yêu cầu chưa được ghi nhận không tự trở thành tiêu chí sau khi làm xong.
Kiểm tra theo từng loại đầu ra
Bộ cắt: mã, số lượng, hướng lông, cặp trái/phải và kích thước. Chi tiết in thêu: nội dung, vị trí, kích thước và màu. Vỏ may: thứ tự ráp, đường may, độ cân và lỗ nhồi. Hàng đã nhồi: hình dáng, mức nhồi hoặc khối lượng theo mẫu. Thành phẩm: các bước hoàn thiện và đóng gói đã thuê.
Nghiệm thu tại xưởng trước khi nhận
Khách hoặc người được ủy quyền đến kiểm tra. Số đạt và số cần xử lý được tách riêng; lỗi ghi kèm mã lô, số lượng, ảnh và phương án khắc phục. Phần chưa đạt không ghi chung thành hàng đã nghiệm thu.
Nội dung biên bản bàn giao
Ghi mã đơn, mẫu đối chiếu, loại đầu ra, số lượng, kết quả kiểm, vật tư hoàn trả và các việc còn tồn tại. Hai bên xác nhận tình trạng lúc giao và người nhận để làm căn cứ đối chiếu khi có phản ánh.
Yêu cầu phát sinh sau bàn giao
Thay mẫu, đổi quy cách hoặc thêm công đoạn sau nghiệm thu là yêu cầu bổ sung, cần báo giá và lịch mới. Hư hỏng do vận chuyển, bảo quản hoặc sử dụng được xem xét theo nguyên nhân. Nếu có căn cứ về lỗi gia công thuộc phạm vi đã nhận, hai bên đối chiếu mẫu và biên bản để xử lý; việc ký nhận không thay thế việc xác định nguyên nhân.